Nhiều nguy cơ với nguyên liệu mây tre lá phục vụ các làng nghề

Nhiều nguy cơ với nguyên liệu mây tre lá phục vụ các làng nghề
Để ngành thủ công mỹ nghệ phát triển bền vững và đạt mức kim ngạch xuấy khẩu 6 tỷ USD đến năm 2030 (theo Quyết định 801/QĐ-TTg của Thủ tướng ngày 7/7/2022), bên cạnh công tác phát triển sản phẩm, hợp chuẩn sản xuất, xúc tiến thương mại… thì việc phát triển vùng nguyên liệu bền vững là vấn đề đầu tiên mang tính quyết định. Tuy nhiên, việc phát triển vùng nguyên liệu cho các nhóm ngành thủ công gần đây đang có rất nhiều bất cập, thách thức và tiềm ẩn nguy cơ lớn để đạt được mục tiêu do Chính phủ đề ra. Trong phạm vi bài viết này Hiệp hội xuất khẩu hàng thủ công Việt Nam chỉ đề cập về câu chuyện của nguyên liệu ngành mây tre lá, cụ thể ở đây là nguyên liệu tre, nguyên liệu mây và nguyên liệu cói.

Nguyên liệu tre: Nguyên liệu họ tre hiện tại phục vụ cho các làng nghề gồm một số loài nguyên liệu phục vụ đan lát, làm bàn ghế và tre cuốn như luồng, nứa, giang, lùng, vầu, tầm vông... Trước đây, các làng nghề đan lát ở Hà Nam và Hà Nội có thể khai thác giang và nứa dễ dàng ở Hòa Bình với chi phí vận chuyển thấp, nhưng hiện tại nguồn nguyên liệu này ở Hòa Bình gần như đã bị khai thác gần hết nên các làng nghề đan lát đã phải đi khai thác nguyên liệu ở các tỉnh xa hơn như Thanh Hóa, Nghệ An... với chi phí vận chuyển cũng cao hơn, giá thành nguyên liệu cũng cao hơn. Nguyên liệu song mây: Đối với nguyên liệu song mây, có 2 nhóm nguyên liệu chính được sử dụng là nhóm nguyên liệu mây rừng và nhóm nguyên liệu mây vườn. 100% các làng nghề sử dụng nguyên liệu mây rừng đều lấy nguồn mây được chế biến từ các tỉnh Nam Trung Bộ (Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng); Bắc Trung Bộ (Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình...).

Nguyên liệu mây vườn được trồng chủ yếu ở Thái Bình, Hưng Yên… Hiện tại nguồn nguyên liệu mây tự nhiên trở nên rất khan hiếm từ những năm 2000 trở lại đây do việc khai thác không có sự quản lý và Việt Nam. Các quốc gia có nhiều nguyên liệu mây trên thế giới như Indonesia, Lào… cũng cấm xuất khẩu nguyên liệu thô nên các doanh nghiệp Việt Nam chỉ dựa vào nguồn nguyên liệu trong nước.

Nguyên liệu cói: Theo số liệu thống kê, cả nước có 12.500 ha cói với tổng sản lượng trên 100.000 tấn. Thanh Hóa là vùng nguyên liệu cói lớn nhất cả nước với gần 5.000 ha, ngoài ra còn có cói ở 21 tỉnh thành khác trên cả nước, một số tỉnh có diện tích cói nhiều như Trà Vinh, Vĩnh Long, Long An… Một phần nguyên liệu cói được sử dụng để sản xuất sản phẩm cói thủ công phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước (45-50%) phần còn lại được xuất khẩu (nguyên liệu) chủ yếu sang thị trường Trung Quốc (50-55%). Chính vì vậy giá nguyên liệu cói trong nước phụ thuộc chặt chẽ vào giá xuất khẩu và có sự biến động rất thất thường trong những năm gần đây. Sự biến động này đã có tác động lớn đến các vùng trồng cói trong nước. Nhiều hộ đã chuyển diện tích trồng cói sang nuôi thủy sản hoặc trồng lúa (khi giá cói xuống thấp) hoặc ngược lại (khi giá cói cao). Sự chuyển đổi này gây lãng phí không nhỏ trong việc đầu tư cải tạo đồng ruộng cũng như chi phí đầu tư khác đối với người dân.

Các vấn đề chính đối với nguồn nguyên liệu mây tre lá để phát triển hàng thủ công của Việt Nam bao gồm:

1. Nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm và giá thành nguyên liệu tăng nhanh trong những năm gần đây trong khi giá bán (xuất khẩu) rất khó tăng. Trước đây 1 người dân đi khai thác 1 ngày được 40 kg mây trong rừng nhưng bây giờ đi 2 ngày (ngủ đêm trong rừng) mới khai thác được 15-20 kg mây. Nguồn nguyên liệu tre tầm vông hiện còn rất ít ở Việt Nam và các doanh nghiệp đang phải khai thác ở Campuchia, nguồn nguyên liệu mây, guột phải khai thác cả ở Lào… Tổng trị giá nguyên liệu mây tre lá ngành thủ công mỹ nghệ cần trong năm 2022 là 350-400 triệu USD, đến năm 2030 để đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 6 tỷ USD hàng thủ công theo quyết định 801/QĐ-TTg của Thủ tướng thì cần có đủ lượng nguyên liệu mây tre lá dao động từ 750 – 850 triệu USD trong đó lượng nguyên liệu mây cần khoảng ít nhất 100.000 tấn song mây các loại cho chế biến hằng năm, tương đương với vùng nguyên liệu 25.000 ha mây các loại phục vụ cho chế biến trong nước trong khi đó vùng nguyên liệu mây hiện tại của Việt Nam ước tính chỉ đạt tối đa 40.000 tấn

2. Chi phí khai thác quá cao do cơ sở hạ tầng vùng trồng nguyên liệu còn rất nghèo nàn, trong khi các nước như Ấn Độ, Trung Quốc khai thác tre, luồng bằng máy, vận chuyển bằng xe chuyên dụng do có đường vận chuyển kiên cố thì ở Việt Nam khai thác và vận chuyển hoàn toàn bằng sức người nên làm mất tính cạnh tranh của giá nguyên liệu (giá khai thác vận chuyển của Việt Nam chiếm gần 40% trong khi ở các nước khác chỉ 10-15%). Ở nhiều địa phương, do chi phí khai thác quá cao người dân để cho tre chết (khuy) chứ không khai thác. Đối với nguyên liệu mây từ rừng tự nhiên, hiện tại các doanh nghiệp cũng phải chi trả tới 400.000 đồng/ tấn nguyên liệu (200.000 đồng phí tài nguyên và 200.000 đồng/tấn cho chủ rừng). Do chi phí cao nên người khai thác thường tìm cách tránh nộp dẫn đến tình trạng nguồn nguyên liệu không có nguồn gốc.

3. Thiếu nguồn nguyên liệu chất lượng cao, nhiều nguồn nguyên liệu bị thoái hóa, năng suất thấp: Ở nhiều địa phương mặc dù có vùng nguyên liệu nhưng đa số nguyên liệu không có sự đầu tư chăm sóc dẫn đến tình trạng bị thoái hóa (ví dụ Hòa Bình có tới 17.000 ha tre các loại nhưng doanh nghiệp Hòa Bình không thể sử dụng được do đa số tre có đường kính bé). Trong thời gian qua một số tỉnh đã có sự quan tâm, hỗ trợ nhân dân để cải tạo, thâm canh và phục tráng vùng tre luồng, tuy nhiên, chất lượng nguồn nguyên liệu không cao, chủ yếu là do công tác quản lý rừng trồng tre, luồng còn nhiều hạn chế, ví dụ như sự phổ biến của hoạt động khai thác sớm và hoạt động chăm sóc rừng, tre luồng chưa được người dân quan tâm đúng mức. Để làm được tre công nghiệp có giá trị kinh tế cao, thị trường lớn thì cây tre, luồng phải đạt đường kính 10cm trở lên và được khai thác sau ba năm tuổi. Như vậy, việc trồng lại rừng tre, luồng đã thoái hóa là cấp thiết để mang lại giá trị kinh tế cao hơn. Trên thế giới cũng đã áp dụng khoa học công nghệ để bảo tồn và phát triển các giống tre năng suất cao (có loài tre đường kính lên đến 30cm, chiều dài 30m), các giống cói năng suất cao có khả năng thích ứng với biến đổi khíc hậu… nhưng vẫn chưa có các hoạt động cải thiện năng suất, chất lượng nguyên liệu mây tre lá ở bất kỳ tỉnh nào của Việt Nam

4. Hệ số sử dụng nguyên liệu còn rất thấp dẫn đến giá thành sản phẩm cao. 1 cây tre của Việt Nam mới có thể sử dụng chưa đến 50% (lãng phí 50%) trong khi đó hệ số sử dụng nguyên liệu 1 cây tre của Trung Quốc lên đến trên 98%. Chính vì vậy một số doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu của Việt Nam đang nhập khẩu nguyên liệu tre ép của Trung Quốc (25 triệu đồng/m3) chứ không sử dụng tre ép của doanh nghiệp Việt Nam sử dụng nguyên liệu trong nước sản xuất (32 triệu đồng/m3). Nguyên nhân của việc hệ số sử dụng nguyên liệu kém là do (1) sự liên kết trong chuỗi giá trị mây tre lá còn kém, đặc biệt là vai trò của doanh nghiệp đầu tàu (2) thiếu các sáng kiến đổi mới sáng tạo để sử dụng hiệu quả nguyên liệu (3) công nghệ chế biến còn lạc hậu, thiếu các công nghệ mang tính đột phá để gia tăng giá trị nguyên liệu; thiếu công nghệ bảo quản, ví dụ bảo quản cói, bèo còn bị mốc phổ biến, tre bị mối, mọt nhiều…(4) thiếu nguồn vốn đầu tư.

5. Hệ thống kho bảo quản nguyên liệu chưa đảm bảo chất lượng: Một số loại nguyên liệu như cói, bèo… chỉ có thể khai thác vào những thời điểm nhất định trong năm nhưng cần bảo quản quanh năm để đảm bảo nguyên liệu ổn định phục vụ sản xuất.

6. Nguyên liệu mây tre ở Việt Nam chưa có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Cả nước mới có khoảng 10.000 ha tre có chứng chỉ quản lý rừng bền vững (hơn 9.000 ha ở Thanh Hóa và gần 1.000 ha ở Nghệ An). Việt Nam hoàn toàn chưa có nguồn nguyên liệu mây, trong khi một quốc gia có rất ít tiềm năng xuất khẩu như Lào lại đã xây dựng được nguồn nguyên liệu mây có chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC. Theo thông tin cập nhật gần nhất, nếu đến cuối năm 2023, nếu Việt Nam không xây dựng được nguồn nguyên liệu mây và tre có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, các tập đoàn mua hàng lớn của Việt Nam như IKEA sẽ dừng toàn bộ việc mua hàng, kim ngạch hàng mây tre sẽ giảm và ảnh hưởng đến hàng trăm doanh nghiệp cũng như trên 50.000 lao động.

7. Thiếu quy hoạch: Hiện tại chưa có một quy hoạch cụ thể nào về vùng nguyên liệu để đảm bảo sản xuất bền vững cho ngành thủ công mặc dù bước đầu đã hình thành tự phát các vùng nguyên liệu, ví dụ vùng nguyên liệu tre ở Thanh Hóa, Nghệ An; vùng nguyên liệu cói ở Thanh Hóa, Trà Vinh…, vùng nguyên liệu mây ở Quảng Nam, Quảng Ngãi…Nhiều doanh nghiệp mong muốn tổ chức phát triển vùng nguyên liệu, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều khó khăn liên quan đến việc tìm kiếm nguồn đất để ổn định sản xuất lâu dài hoặc khó khăn về việc tìm ra những mối quan hệ hợp tác phù hợp với các công ty lâm nghiệp hoặc/và các hộ gia đình là chủ sở hữu của đất lâm nghiệp. Việc nhập khẩu nguyên liệu mây tre lá sẽ ngày một khó khăn hơn do chính sách “thắt chặt” xuất khẩu nguyên liệu thô của các nước do đó cần có giải pháp quy hoạch cụ thể cho vùng nguyên liệu mây tre lá trong nước.