Một số thách thức đối với hàng ngành mây tre lá thủ công của Việt Nam

Một số thách thức đối với hàng ngành mây tre lá thủ công của Việt Nam
Một số thách thức đối với hàng ngành mây tre lá thủ công của Việt Nam Xuất khẩu hàng mây tre lá của Việt Nam tăng trưởng rất ấn tượng những năm gần đây và đạt 474,1 triệu USD, tăng trưởng mạnh đạt trên 30% so với năm 2018. Sản phẩm mây, tre, cói của Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang các nước EU chiếm 31,44% tỷ trọng và tăng 35,36% so với năm 2018. Tiếp đến là thị trường Mỹ, chiếm 19,5% và tăng gần gấp đôi so với năm 2018; thị trường Nhật Bản chiếm 9,3% và tăng trưởng 10,8 so với năm 2018. Tuy nhiên, ngành hàng mây tre lá của Việt Nam cũng đang gặp nhiều khó khăn để có thể phát triển một cách bền vững, các khó khăn này đến từ nhiều công đoạn khác nhau của chuỗi giá trị mây tre lá, từ nguyên liệu, lao động, phát triển sản phẩm, mở rộng thị trường…

1. Nguồn nguyên liệu mây tre lá đang bị suy giảm nghiêm trọng và thiếu sự quy hoạch tổng thể

Nguyên liệu tre: Nguyên liệu họ tre hiện tại phục vụ cho các làng nghề đã trở nên khan hiếm hơn đặc biệt là một số loài nguyên liệu phục vụ đan lát, làm bàn ghế và tre cuốn như nứa, giang, lùng, tầm vông... Trước đây, các làng nghề đan lát ở Hà Nam và Hà Nội có thể khai thác giang và nứa dễ dàng ở Hòa Bình với chi phí vận chuyển thấp, nhưng hiện tại nguồn nguyên liệu này ở Hòa Bình gần như đã bị khai thác gần hết nên các làng nghề đan lát đã phải đi khai thác nguyên liệu ở các tỉnh xa hơn như Tuyên Quang, Yên Bái, Thanh Hóa... với chi phí vận chuyển cũng cao hơn, giá thành nguyên liệu cũng cao hơn.

Nguyên liệu song mây: Đối với nguyên liệu song mây, có 2 nhóm nguyên liệu chính được sử dụng là nhóm nguyên liệu mây rừng và nhóm nguyên liệu mây vườn. 100% các làng nghề sử dụng nguyên liệu mây rừng đều lấy nguồn mây được chế biến từ các tỉnh Nam Trung Bộ (Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng); Bắc Trung Bộ (Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình...). Nguyên liệu mây vườn được trồng chủ yếu ở Thái Bình, Hưng Yên… Hiện tại nguồn nguyên liệu mây tự nhiên trở nên rất khan hiếm từ những năm 2000 trở lại đây do việc khai thác không có sự quản lý và Việt Nam. Các quốc gia có nhiều nguyên liệu mây trên thế giới như Indonesia, Lào… cũng cấm xuất khẩu nguyên liệu thô nên các doanh nghiệp Việt Nam chỉ dựa vào nguồn nguyên liệu trong nước. Theo tính toán sơ bộ, hiện nay Việt Nam cần ít nhất 80,000 tấn song mây các loại cho chế biến hằng năm. Nếu mỗi ha cho khai thác bền vững bình quân 3,5 tấn/năm thì phải cần hơn 23,000 ha mây các loại phục vụ cho chế biến trong nước.

Nguyên liệu cói: Theo số liệu thống kê năm 2008, cả nước có 12.500 ha cói với tổng sản lượng trên 100.000 tấn. Thanh Hóa là vùng nguyên liệu cói lớn nhất cả nước với gần 5.000 ha, ngoài ra còn có cói ở 21 tỉnh thành khác trên cả nước, một số tỉnh có diện tích cói nhiều như Trà Vinh, Vĩnh Long, Long An… Một phần nguyên liệu cói được sử dụng để sản xuất sản phẩm cói thủ công phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước (45-50%) phần còn lại được xuất khẩu (nguyên liệu) chủ yếu sang thị trường Trung Quốc (50-55%). Chính vì vậy giá nguyên liệu cói trong nước phụ thuộc chặt chẽ vào giá xuất khẩu và có sự biến động rất thất thường trong những năm gần đây. Sự biến động này đã có tác động lớn đến các vùng trồng cói trong nước. Nhiều hộ đã chuyển diện tích trồng cói sang nuôi thủy sản hoặc trồng lúa (khi giá cói xuống thấp) hoặc ngược lại (khi giá cói cao). Sự chuyển đổi này gây lãng phí không nhỏ trong việc đầu tư cải tạo đồng ruộng cũng như chi phí đầu tư khác đối với người dân. Huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) là trung tâm cói của cả nước, trước đây huyện có 3.255 ha trồng cói, thì năm 2018 trên địa bàn chỉ còn khoảng 1.624 ha diện tích trồng cói và tiếp tục giảm trong năm 2019. Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm, thứ nhất do sự ép giá của thị trường Trung Quốc và thứ hai là do biến đổi của thời tiết, khí hậu dẫn đến việc chi phí trồng cói cao.

2. Lao động làng nghề đang bị suy giảm trong khi nhu cầu thị trường vẫn tăng trưởng dẫn đến nguy cơ thiếu lao động sản xuất trầm trọng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm lao động tại các làng nghề trong những năm gần đây. Đầu tiên là việc phát triển các khu công nghiệp và khu chế xuất, đặc biệt là các khu công nghiệp và khu chế xuất ở vùng nông thôn cũng đã tạo ra một sức hút lớn đối với các lao động tại các làng nghề. Nhìn chung, lao động tại các làng nghề có xu hướng muốn làm việc cho các công ty trong khu công nghiệp và khu chế xuất hơn so với sản xuất hàng thủ công tại các làng nghề mặc dù thu nhập không có nhiều khác biệt Việc giảm lao động tại các làng nghề còn có nguyên nhân từ sự biến động của thị trường, trong đó nguyên nhân sâu xa chính là việc thiếu đầu tư vào sản xuất các mặt hàng giá trị cao với lãi suất đủ bù đắp sự thay đổi trong một giới hạn nhất định của các yếu tố đầu vào như giá vật tư, nguyên liệu, lãi suất ngân hàng.... Đa phần các làng nghề thường sản xuất các mặt hàng đại trà với lãi suất thấp nên rất dễ thua lỗ trong trường hợp biến động bất lợi của yếu tố đầu vào hoặc sự suy giảm sức mua của thị trường đầu ra Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai các chương trình đào tạo nghề, một lượng lao động mới tham gia vào sản xuất ở các làng nghề và làng có nghề được hình thành, tuy nhiên, đội ngũ lao động mới được đào tạo này cũng chỉ duy trì được ở mức tăng trưởng lao động không cao và trên góc độ kỹ năng thì tay nghề của đội ngũ lao động gia tăng này cũng thường chưa cao dẫn đến năng suất lao động thấp gây nên những nguy cơ tiềm ẩn của việc duy trì sản xuất bền vững nếu không có các biện pháp khuyến khích thực sự từ các nhân tố liên quan trong ngành. Một số chương trình đào tạo nghề mang tính hình thức và thiếu sự liên kết với các doanh nghiệp và không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp.

3. Nhu cầu đáp ứng các hợp chuẩn quốc tế ngày càng tăng

Khảo sát của Vietcraft đối với các nhà nhập khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam cho thấy, có 67,4% nhà nhập khẩu yêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần đáp ứng được các yêu cầu hợp chuẩn của nước nhập khẩu và tỷ lệ này tăng hàng năm. Hiện tại có ngày càng nhiều các yêu cầu về hợp chuẩn được nhà nhập khẩu yêu cầu đối với các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ như hợp chuẩn về chất lượng, hợp chuẩn trách nhiệm xã hội, hợp chuẩn về an ninh… trong đó hợp chuẩn về trách nhiệm xã hội tăng rất nhanh như hợp chuẩn về việc sử dụng nguồn nguyên liệu được khai thác hợp pháp, hợp chuẩn truy xuất nguồn gốc, hợp chuẩn liên quan đến việc không sử dụng lao động trẻ em, hợp chuẩn về an toàn trong sản xuất, hợp chuẩn về việc không phân biệt đối xử với người lao động… Tuy nhiên, số doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các tiêu chuẩn hợp khẩu còn rất ít, chỉ chưa đến 20% tổng số doanh nghiệp mây tre lá Việt Nam có thể đáp ứng được một số tiêu chuẩn hợp chuẩn, điều này làm giảm cơ hội để doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng mây tre lá cũng gặp khó khăn trong việc đào tạo nhân sự phụ trách hợp chuẩn; các chi phí để quy trì hệ thống hợp chuẩn còn rất cao, bao gồm khám sức khỏe, đo môi trường, xử lý chất thải… lên tới 100 triệu đồng/năm.

4. Thiết kế phát triển sản phẩm

Các làng nghề ít có khả năng tạo ra các sản phẩm mới do không am hiểu về xu hướng thị trường. Cũng chỉ có một số ít các doanh nghiệp có khả năng thiết kế các sản phẩm mới, còn lại đa số các doanh nghiệp sản xuất theo mẫu hàng của khách. Do ít có sản phẩm thiết kế mới nên việc duy trì và phát triển khách hàng/ thị trường là một vấn đề rất khó khăn. Một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Philippine có các Trung tâm thiết kế chuyên nghiệp để hỗ trợ doanh nghiệp thủ công của họ nhưng hiện tại các trung tâm như vậy chưa có tại Việt Nam. Riêng Thái Lan còn tổ chức hàng năm cuộc thi đan lát của nghệ nhân các nước ASEAN tại Bangkok để tạo thêm các ý tưởng thiết kế hàng đan lát mới cho các doanh nghiệp của Thái Lan. Chính phủ Philippine lại lựa chọn 8 doanh nghiệp tiêu biểu nhất của cả nước để hỗ trợ lâu dài về phát triển sản phẩm có thiết kế mới nhằm tạo xu hướng thiết kế và quảng bá cho ngành thủ công mỹ nghệ của Philippine. Hệ thống các trường thiết kế Việt Nam mặc dù rất nhiều nhưng việc đào tạo còn mang tính lý thuyết và ít có sự liên kết với các làng nghề và ngay cả khi có sự liên kết thì chất lượng thiết kế cũng còn rất hạn chế và doanh nghiệp ít sử dụng được. Các doanh nghiệp mây tre lá thành công hiện tại là các doanh nghiệp đầu tư sâu vào thiết kế phát triển sản phẩm mới bằng cách thuê các chuyên gia thiết kế nước ngoài, duy trì nhóm sản xuất hàng mẫu tại doanh nghiệp (với chi phí hàng năm tối thiểu 500 triệu đồng).

  5. Liên kết ngành Việc liên kết ngành còn yếu.

Hiện cả nước có các hội/hiệp hội liên quan đến làng nghề/ mặt hàng mây tre lá như Hiệp hội mây tre lá Quảng Nam, Hiệp hội làng nghề Việt Nam, Hiệp hội cói Thanh Hóa ….tuy nhiên chất lượng cung cấp dịch vụ của đa số các Hiệp hội còn yếu và thiếu sự gắn kết giữa Hiệp hội với các doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực, tài chính của các Hội cũng như các định hướng hoạt động chưa đáp ứng được yêu cầu của các hội viên. Bản thân nhiều hội viên doanh nghiệp mây tre lá cũng thiếu ý thức về việc liên kết hợp tác để cùng phát triển. Vai trò và tiếng nói của các hiệp hội đối với các cơ quan quản lý nhà nước còn rất mờ nhạt

6. Xúc tiến thương mại

Nhìn chung các hoạt động xúc tiến thương mại đối với ngành thủ công mỹ nghệ nói chung và nhóm ngành hàng mây tre lá nói riêng còn rất ít có sự đồng hành của nhà nước mà chủ yếu do sự nỗ lực của các doanh nghiệp. Các hội chợ tổ chức trong nước, bên cạnh việc thiếu địa điểm tổ chức chuyên nghiệp trầm trọng từ trước đến nay, nhìn chung có rất ít hiệu quả. Các hội chợ (trừ Hội chợ Lifestyle Vietnam do Vietcraft tổ chức) còn chưa định hướng được phân khúc thị trường/ khách hàng, không có các hoạt động marketing chuyên nghiệp… nên không thu hút được doanh nghiệp và khách hàng. Việc tham gia các hội chợ quốc tế đem lại cơ hội rất tốt để tìm kiếm khách hàng mới tuy nhiên do chi phí rất cao nên cũng còn ít doanh nghiệp mây tre lá có thể tham gia. Ở góc độ khu vực, các quốc gia như Philippine, Thái Lan, Indonesia đang hỗ trợ rất tích cực để xây dựng và quảng bá hình ảnh các sản phẩm thủ công của họ đặc biệt là ở các Hội chợ quốc tế lớn như Ambiente (Frankfurt, Đức), Maison et Objet (Paris, Pháp), NY Now (New York, Mỹ), Tokyo Giftshow (Nhật)…

7. Cơ chế chính sách

Ngoài các cơ chế chung về làng nghề thì ngành mây tre lá có Quyết định 11/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng ngày 18 tháng 2 năm 2011 – theo quyết định này có một số điểm quan trọng như “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn được hỗ trợ 100% tiền mua cây giống lần đầu “; “Ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí để thực hiện: Ứng dụng thiết bị, công nghệ tiên tiến, công nghệ sinh học vào các khâu bảo quản, chế biến mây tre”; “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành lập Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ phát triển ngành mây tre”; “ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo nghề”; “Khuyến khích thành lập các trung tâm nghiên cứu, thiết kế mẫu mã, sản phẩm mới”; … Tuy nhiên việc triển khai quyết định này ít thực tiễn do không có sử phân bổ nguồn vốn thực hiện, không có đầu mối triển khai, tính lan tỏa đến các địa phương còn rất ít… Cần có các giải pháp đồng bộ và cụ thể để khắc phục các khó khăn trên đây thì ngành mây tre lá mới có thể phát triển được bền vững để nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường nhằm góp phần tạo thêm thu nhập và việc làm cho người sản xuất tại các làng nghề mây tre lá của Việt Nam.