Được sự tài trợ của Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc, thông qua Quỹ Châu Á, Hiệp hội Xuất khẩu hàng Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam (Vietcarft) triển khai thực hiện Dự án: “Hỗ trợ truy xuất nguồn gốc hàng hóa và phát triển xuất khẩu”, trong đó Mây Tre là một trong 05 ngành hàng được tham gia truy xuất trong khuôn khổ của dự án.
Dự án nhằm mục đích hỗ trợ các Doanh nghiệp Việt Nam chuyên xuất khẩu và/hoặc các doanh nghiệp Việt Nam có định hướng xuất khẩu các mặt hàng mây tre Việt Nam cũng như phát triển thị trường trong nước, thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc các sản phẩm được làm từ mây tre dựa trên nền tảng công nghệ chuỗi khối (blockchain), đáp ứng các quy định của Hệ thống truy xuất quốc tế (GS1), đẩy mạnh xuất khẩu đồng thời tạo ra những sản phẩm uy tín và đáng tin cậy, tăng cường năng lực cạnh tranh, xây dựng và phát triển vị thế, thương hiệu, đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường tiêu thụ các sản phẩm làm từ mây tre ở trong nước và trên thị trường quốc tế, giúp cho các Doanh nghiệp Mây Tre Việt Nam nói riêng và ngành sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng Thủ công Mỹ nghệ của Việt Nam nói chung tăng khả năng và cơ hội để phát triển bền vững.
Quá trình triển khai truy xuất chuỗi ung ứng mây tre lá đã cho thấy nhiều yếu tố thuận lợi cũng như khó khăn để thực hiện truy xuất. Về mặt thuận lợi, nguyên liệu mây tre lá được khai thác trong nước, quy trình sơ chế nguyên liệu thô không quá phức tạp, không nhiều các tác nhân tham gia chuỗi giá trị (canh tác, thu hái, sơ chế, làm mộc, làm hoàn thiện, xuất khẩu) nên có thể minh bạch và kiểm soát tốt. Nhân công lao động sinh sống và làm việc tập trung tại các làng nghề truyền thống và đa số các doanh nghiệp đều đã có các trưởng nhóm chuyên trách phân bổ nguyên vật liệu, thu gom, kiểm tra và giám sát chất lượng các sản phẩm mộc trước khi được chuyển qua công đoạn làm hoàn thiện.
Ngoài ra, doanh nghiệp xuất khẩu thường có vai trò chi phối rất quan trọng trong chuỗi giá trị nên sự đồng thuận của doanh nghiệp xuất khẩu trong chuỗi chi phối thường kéo theo sự đồng thuận của các nhân tố khác trong toàn chuỗi giá trị. Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng mây tre lá ý thức được nhu cầu của thị trường và tầm quan trọng của công tác truy xuất nguồn gốc nên có tính cam kết với dự án. Đa số các doanh nghiệp cũng đã đạt được những tiêu chuẩn hợp chuẩn nhất định được quốc tế thừa nhận như ISO, FSC, BSCI… nên công tác ghi chép và lưu trữ hồ sơ tương đối thuận lợi cho công tác truy xuất. Các công ty cũng có đội ngũ nhân lực và trang thiết bị phù hợp để thực hiện các công việc liên quan đến truy xuất
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn nhiều những thách thức trong việc truy xuất nguồn gốc hàng hóa của chuỗi cung ứng mây tre lá. Trước hết đó là việc thiếu vùng trồng nguyên liệu tập trung và quy mô lớn, địa hình các vùng nguyên liệu tre nứa khá khó khăn trong việc đi lại, vận chuyển và khai thác và cũng vì sự thiếu tập trung nên nên khó kiểm soát về nguồn gốc nguyên liệu. Chính sách phát triển cây tre nứa ở Việt Nam chủ yếu để làm vật liệu cho ngành xây dựng, nên hiệu quả gây trồng thấp, giá tre nứa rất thấp so với giá ở các nước trong khu vực, người dân không có động lực để gây trồng nguyên liệu. Nhà nước cũng chưa có kế hoạch khai thác, gây trồng và phát triển vùng nguyên liệu mây, tre, … theo hướng bền vững.
Doanh nghiệp thu mua sản phẩm thô từ hộ sản xuất nhưng không yêu cầu hộ sản xuất cam kết về nguồn gốc xuất xứ của nguyên liệu. Hộ sản xuất chủ động tìm kiếm và lựa chọn nguồn cung nguyên liệu phù hợp để sản xuất hàng mộc, đáp ứng đơn hàng của Doanh nghiệp mà không được yêu cầu phải công khai nguồn gốc nguyên liệu. Hiện tại đa số doanh nghiệp không quan tâm và không kiểm soát chuỗi cung ứng mà chỉ quan tâm đến sản phẩm hoàn thiện. Doanh nghiệp không can thiệp vào quá trình sản xuất sản phẩm của từng hộ sản xuất mà chỉ quan tâm tới chất lượng của sản phẩm hoàn thiện và thời hạn thu gom hàng theo như đơn hàng đề ra. Do vậy, doanh nghiệp không kiểm soát được năng suất sản xuất của từng hộ sản xuất.
Các sản phẩm được sản xuất bởi các hộ sản xuất đều được các nhà thu gom nhận và lưu kho chung, không có sự phân tách. Do vậy, Doanh nghiệp không kiểm soát được nguồn gốc của sản phẩm đến cấp hộ. Tuy nhiên việc này có thể khống chế được nếu một hệ thống truy xuất hoàn thiện được thống nhất giữa các nhân tố trong toàn chuỗi cung ứng. Với một số doanh nghiệp, các hộ sản xuất sản xuất sản phẩm thủ công và theo truyền thống, tự chủ đông khâu sơ chế nguyên liệu, pha chế keo, nước sơn, thời gian phơi, xử lý nhiệt, hoàn thiện sản phẩm, … tùy theo quy mô của mỗi hộ sản xuất và doanh nghiệp. Do vậy, Doanh nghiệp không kiểm soát và truy xuất được các công đoạn trong quy trình sản xuất.
Nhận thức của các hộ sản xuất và các nhân tố trong toàn chuỗi cung ứng về công tác truy xuất chưa cao. Sự sẵn sàng cho công tác truy xuất còn những hạn chế nhất định liên quan đến việc tổ chức, đào tạo, xây dựng nền tảng truy xuất cho từng nhân tố trong chuỗi. Với các doanh nghiệp có chuỗi cung ứng mang tính chi phối (tức doanh nghiệp có đủ đơn hàng liên tục cho toàn bộ các nhân tố trong chuỗi cung ứng cả năm) thì sự hợp tác giữa các nhân tố trong chuỗi cung ứng liên quan đến truy xuất rất cao, tuy nhiên trong trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu có ít sự chi phối/ ảnh hưởng đến các nhân tố trong chuỗi giá trị thì sự cam kết tham gia của các nhân tố ở phần đầu chuỗi (đơn vị cung ứng nguyên liệu, hỗ sản xuất…) cũng không được quá cao do đó công tác nâng cao nhận thức và triển khai hoạt động truy xuất cần phải được tích cực triển khai hơn để có được hiệu quả như mong muốn
Các nhân tố trong chuỗi giá trị có khả năng tiếp cận công nghệ và trang thiết bị để tham gia truy xuất khác nhau. Nhìn chung với hộ sản xuất, các đơn vị cung cấp nguyên phụ liệu và chủ cơ sở thu gom thì điện thoại là phương tiện phổ biến nhất. Tuy nhiên có thể thấy không phải toàn bộ các nhân tố đều có điện thoại thông minh và thực tế nếu có điện thoại thông minh thì khả năng cập nhật thông tin trong số hàng nghìn hộ gia đình tham gia trong tương lai cũng sẽ rất khó quản lý. Do đó, việc tổ chức để cập nhật thong tin truy xuất là một vấn đề cần tính đến. Dường như vai trò của các chủ thu gom (nhân tố gần các hộ sản xuất nhất) đóng vai trò rất quan trọng trong việc phối hợp cùng các hộ sản xuất để thực hiện cập nhật các thông tin truy xuất nguồn gốc
Các doanh nghiệp xuất khẩu nói chung, các chủ cơ sở thu gom trong nhiều trường hợp không muốn tiết lộ các nhân tố trong chuỗi cung ứng của mình, không muốn tiết lộ các thông tin liên quan đến sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp khác biết. Chính vì vậy, nhiều công ty có cảm giác không yên tâm để thực hiện và tiết lộ việc truy xuất. Điều này đặt ra một yêu cầu bắt buộc cho ứng dụng truy xuất là đảm bảo việc phân quyền để tiếp cận thông tin. Doanh nghiệp và một số khách hàng doanh nghiệp chỉ định có thể tiếp cận thông tin ở mức cao nhất trong khi đó các đối tượng khác chỉ tiếp cận thông tin ở mức cơ bản và có sự thống nhất của doanh nghiệp. Một số thông tin sau đây được coi là nhạy cảm đối với các doanh nghiệp xuất khẩu (1) tên khách hàng nhập khẩu (2) trị giá các lô hàng (3) đơn vị thu gom hàng (4) địa chỉ / liên lạc các hộ sản xuất…
Hiện tại Hiệp hội xuất khẩu đang hoàn thiện những công đoạn cuối cùng để có thể thực hiện được việc truy xuất từ cuối năm 2021.



