Làng nghề dệt và thêu ở Việt Nam

Làng nghề dệt và thêu ở Việt Nam
Làng nghề dệt và thêu ở Việt Nam Theo số liệu nghiên cứu của Vietcraft thì cả nước có 177 làng nghề dệt và 341 làng nghề thêu. Các làng nghề dệt phân bố nhiều nhất ở phía Bắc của Việt Nam, trong đó các tỉnh Đông Bắc có nhiều làng nghề dệt nhất với 41 làng nghề, tiếp theo là đồng bằng Sông Hồng, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ với số làng nghề dệt tương ứng là 35, 24 và 23 làng nghề. Các làng nghề dệt ở các tỉnh Đông Bắc và Tây Bắc chủ yếu là các làng nghề dệt của các dân tộc thiểu số, trong khi đó các làng dệt ở vùng đồng bằng sông Hồng là các làng nghề của người Kinh.

Khác với các làng nghề dệt, các làng nghề thêu phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng Sông Hồng và tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình…Có 225 trong tổng số 341 làng nghề thêu nằm ở vùng Sông Hồng, chiếm 66% số làng nghề thêu cả nước. Phần còn lại là các làng nghề thêu chủ yếu ở Tây bắc của đồng bào dân tộc thiểu số. Ngành dệt và thêu tạo được việc làm và thu nhập cho 266.000 lao động, trong đó ngành thêu tuyển dụng 130.000 lao động và ngành dệt tuyển dụng 136.000 lao động.

Trên góc độ quy mô, các trung tâm làng nghề dệt có quy mô lớn nhất ở Việt Nam là Thái Bình, Nam Định, Hà Nội, Lâm Đồng…

• Thái Bình – Làng nghề dệt khăn bông ở Thái Phương (hầu hết xuất khẩu trực tiếp sang thị trường châu Mỹ, châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản...với doanh số trên 700 tỷ đồng mỗi năm)
• Hà Nam: Làng dệt lụa Nha xá với doanh số trên 300 tỷ đồng mỗi năm • Hà Nội: Làng dệt khăn bông Mỹ Đức với doanh số trên 1.200 tỷ
• Lâm Đồng: Mỗi năm sản xuất được khoảng 1.000 tấn tơ tằm, 3,5 triệu m2 lụa; kim ngạch xuất khẩu khoảng 16 - 18 triệu USD/năm, chiếm 80% tổng sản lượng xuất khẩu tơ lụa của cả nước.

Số lượng làng nghề dệt đang giảm nhanh trong những năm gần đây, sự suy giảm này chủ yếu đến từ các làng nghề dệt của đồng bào các dân tộc thiểu số do sự xâm nhập tràn lan của các sản phẩm vải công nghiệp. Nếu so sánh giai đoạn 2010-2020 thì số lượng làng nghề dệt của đồng bào dân tộc giảm khoảng 20%.

Các trung tâm làng nghề thêu nổi tiếng trên cả nước bao gồm Ninh Bình (Làng thêu Văn Lâm); Hà Nam (Làng thêu Thanh Hà); Thái Bình (Làng thêu Minh Lãng); Hà Nội (Làng thêu Quất Động, Thắng lợi…) Kim ngạnh xuất khẩu hàng dệt thủ công hàng năm đạt trên 100 triệu USD, trong đó thị trường Nhật, Hàn Quốc, Châu Âu, Mỹ… là các thị trường chính. Các sản phẩm cho thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc chủ yếu là khăn ăn, lụa còn các thị trường khác chủ yếu là khăn tắm và các loại sản phẩm khác. Việt Nam hiện đứng trong tốp 5 thế giới về sản xuất tơ tằm , chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ, Uzbekistan và Thái Lan.

Kim ngạch xuất khẩu hàng thêu tay năm 2019 đạt 39 triệu USD, chủ yếu xuất khẩu cho thị trường các nước EU và Nhật Bản. Thị trường Mỹ và Hàn Quốc cũng có tỷ trọng xuất khẩu tương đối cao.

Thị trường hàng dệt Việt Nam bị cạnh tranh/ chi phối mạnh mẽ bởi các quốc gia sản xuất khác trong khu vực. Hàng dệt khăn bông bị cạnh tranh bởi Trung Quốc, Bangladesh, Ấn độ. Hàng lụa bị chi phối nhiều bởi Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan trong khi đó các sản phẩm thêu tay của Việt Nam lại bị cạnh tranh bởi hàng thêu máy đến từ Trung Quốc và các quốc gia khác.

Một số vấn đề với ngành dệt và thêu thủ công

1. Nguồn nguyên liệu

Nguồn nguyên liệu phục vụ các làng nghề dệt gồm có tơ tằm, sợi bông, sợi lanh và gần đây là sợi gai (từ cây gai xanh), tơ sen.

Cả nước có 32 tỉnh thành có nghề trồng dâu nuôi tằm, với diện tích trồng dâu khoảng 15.000 ha, riêng tỉnh Lâm Đồng chiếm 73% sản lượng tơ của cả nước (Năm 2019, Lâm Đồng có 8.500ha dâu, sản lượng kén đạt 10.800 tấn, tơ 1.500 tấn và 5,2 triệu mét vuông lụa). Hiện tại Việt Nam chưa tự sản xuất được nguồn trứng tằm mà phải nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc thông qua tiểu ngạch. Vùng sản xuất nguyên liệu còn nhiều xen canh ảnh hưởng đến năng suất nuôi tằm. Điều kiện môi trường ngày càng trở nên ô nhiễm (phun thuốc trừ cỏ cạnh ruộng dáu, khói lò gạch khu vực đất bãi trong vùng nuôi tằm...) đã làm cho khả năng mắc bệnh của tằm tăng đáng kể. Công nghệ chế biến chưa đạt được các loại tơ cao cấp mà chủ yếu là tơ thô, bên cạnh đó giá bán phụ thuộc chính vào giá thị trường Trung Quốc và Ấn Độ. Việt Nam cũng chưa tận dụng được các thứ liệu như gốc rủ, áo nhộng, xơ nhộng …đưa vào chế biến mà chỉ bán (xuất khẩu) được ở dạng thô rẻ tiền, vô hình dung làm tăng giá thành của nguyên liệu tơ.

Gần đây một số doanh nghiệp của Trung Quốc cũng đã đầu tư vào sản xuất nguyên liệu tơ và vải lụa ở Lâm Đồng, điều này có tác động 2 mặt, về mặt tích cực là tạo thêm vùng nguyên liệu dâu tằm tơ và việc làm/thu nhập cho người dân nhưng cũng sẽ tiềm ẩn 2 nguy cơ, thứ nhất là ảnh hưởng đến thị trường/nguồn cung kén hiện tại và về lâu dài là nguy cơ tẩy chay mua hàng tơ của Việt Nam vì hiện tại các doanh nghiệp mua tơ lớn của Ấn Độ (là thị trường tiêu thụ tơ nguyên liệu lớn hiện nay) đã gần đây (năm 2000) cấm nhập khẩu tơ của Trung Quốc do yếu tố chính trị.   

Không chỉ sử dụng tơ tự nhiên sản xuất trong nước, để hạ giá thành và đa dạng sản phẩm, các làng nghề dệt lụa... đã sử dụng sợi tơ tổng hợp Visco (loại 120D/30F) được nhập khẩu từ Trung Quốc.

Nguyên liệu sợi bông của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu (98%), chủ yếu nhập từ Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Châu Phi… Một số tỉnh vùng núi có trồng bông để phục vụ cho nghề dệt của đồng bào dân tộc nhưng diện tích cũng không nhiều – mặc dù hiện tại tiềm năng thị trường về các sản phẩm dệt sợi bông se thủ công đang tăng nhanh. Trở ngại chính để phát triển nguồn nguyên liệu bông thủ công chính là sự lưỡng lự của người dân trong việc phát triển vùng nguyên liệu truyền thống này do không chắc chắn về thị trường tiêu thụ. Việc chế biến sợi truyền thống cũng đang dần mai một, số người có thể kéo ra sợi bông có chất lượng cao đang suy giảm nhanh.

Nguyên liệu sợi lanh đa số được đồng bào dân tộc H’mông sử dụng để dệt. Hiện tại vùng nguyên liệu lanh này đang được trồng chủ yếu ở Hà Giang, Yên Bái, Hòa Bình. Tổng diện tích trồng lanh cả nước hiện khoảng 80-100 ha. Không có nhiều khó khăn về việc phát triển nguyên liệu lanh nếu thị trường các sản phẩm từ lanh được ổn định. Cây lanh là loại nguyên liệu chỉ trồng 5 tháng là có thể thu hoạch, cây lanh cũng là loại nguyên liệu dệt có độ bền cao nhất trong số các loại sợi dệt trên thế giới, đồng thời cũng là loại cây hiếm có khả năng thích ứng và giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu.

Nguyên liệu sợi gai đang được phát triển nhanh những năm gần đây ở Phú Thọ, Mộc Châu, Lào Cai…Hiện tại đa số sợi gai được sử dụng để dệt vải công nghiệp (Công ty An Phước), tuy nhiên hoàn toàn có thể sử dụng sợi gai để dệt thủ công và tạo nên những sản phẩm độc đáo trong thời gian tới.

Nguyên liệu sợi tơ sen đang bắt đầu được phát triển ở quy mô nhỏ ở Đồng Tháp, Hà Nội. Cần thận trọng phát triển hàng loạt loại nguyên liệu này khi tính cạnh tranh so với nguyên liệu tơ sen ở Myanmar và Campuchia chưa được làm rõ.

Đối với các làng nghề thêu, nguyên liệu sử dụng chủ yếu là vải thêu và chỉ thêu. Vải thêu hiện tại một phần sử dụng vải do khách hàng cung cấp được nhập khẩu từ Trung Quốc, Italy, Anh, Pháp…, một phần sử dụng vải sản xuất trong nước (vải cotton, vải lụa…). Chỉ thêu được sử dụng một phần là chỉ thêu trong nước (cotton Phong Phú), một phần là chỉ thêu nhập khẩu (DMC của Pháp). Tùy theo nhu cầu của khách hàng các cơ sở sản xuất tại các làng nghề có thể sử dụng các loại vải và chỉ thêu khác nhau. Không có nhiều khó khăn về cung cấp nguyên liệu ngoại trừ sự đa dạng của nguyên liệu để đáp ứng các yêu cầu về mẫu mã khác nhau của khách và việc thực hiện các đơn hàng nhỏ ban đầu.

2. Sự suy giảm và già hóa nhanh về lao động và các làng nghề dệt, thêu

Lao động tại các làng nghề dệt và thêu ngày càng thiếu lao động trẻ. Đa số lao động tham gia làm nghề tại các làng nghề như thêu Văn Lâm (Ninh Bình), lụa Vạn Phúc (Hà Nội) là lao động trên 35 tuổi và thậm chí có nhiều làng nghề chỉ còn lao động ngoài 50 tuổi. Lao động trẻ hiện ít tham gia nghề và có xu hướng tìm việc ở thành phố hoặc các khu công nghiệp ở địa phương.

Số lượng các làng nghề dệt của đồng bào các dân tộc chiếm trên 50% tổng số làng nghề dệt, số lượng làng nghề thêu của đồng bào các dân tộc chiếm trên 30% tổng số làng nghề thêu. Nghề dệt và thêu của đồng bào dân tộc đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết việc làm và thu nhập cho người dân, đặc biệt là phụ nữ dân tộc, tuy nhiên qua khảo sát tại các tỉnh miền núi Đông bắc và Tây Bắc cũng như khu vực miền Trung và Tây Nguyên, gần như trên 70% lao động nghề dệt trước đây đang từ bỏ khung dệt do sự tràn ngập của vải công nghiệp trên thị trường, do thiếu ý tưởng phát triển sản phẩm mới cũng như thiếu những định hướng và liên kết cụ thể để phát triển.

Việc giảm lao động tại các làng nghề còn có nguyên nhân từ sự biến động của thị trường, trong đó nguyên nhân sâu xa chính là việc thiếu đầu tư vào sản xuất các mặt hàng giá trị cao với lãi suất đủ bù đắp sự thay đổi trong một giới hạn nhất định của các yếu tố đầu vào như giá vật tư, nguyên liệu, lãi suất ngân hàng.... Đa phần các làng nghề thường sản xuất các mặt hàng đại trà với lãi suất thấp nên rất dễ thua lỗ trong trường hợp biến động bất lợi của yếu tố đầu vào hoặc sự suy giảm sức mua của thị trường đầu ra.

Một số chương trình đào tạo nghề đã được tiến hành nhưng còn chưa gắn với nhu cầu thị trường nên chưa thu hút được nhiều sự tham gia cũng như chưa thực sự hiệu quả.

3. Bản sắc văn hóa đang bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực

Bản sắc văn hóa nghề dệt và thêu đang bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực, nhiều hoa văn thêu và dệt truyền thống đã bị thất truyền, đồng bào nhiều dân tộc cũng đang sử dụng các chất liệu công nghiệp nhập khẩu như vải không dệt, sợi hóa học để dệt và thêu.

Ở nhiều làng nghề tình trạng nhập khẩu hàng từ Trung Quốc và bán tràn lan thiếu kiểm soát đã làm giảm uy tín của làng nghề và gây tâm lý hoang mang/ mất lòng tin với khách hàng. Tình trạng này xẩy ra không chỉ với các làng nghề dệt ở vùng đồng bằng mà còn đang gia tăng nhanh với các làng nghề dệt của đồng bào dân tộc ở Hòa Bình, Lào Cai, Lâm Đồng, Ninh Thuận…

4. Nhu cầu đáp ứng các hợp chuẩn quốc tế ngày càng tăng

Khảo sát của Vietcraft đối với các nhà nhập khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam cho thấy, có 67,4% nhà nhập khẩu yêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần đáp ứng được các yêu cầu hợp chuẩn của nước nhập khẩu và tỷ lệ này tăng hàng năm. Hiện tại có ngày càng nhiều các yêu cầu về hợp chuẩn được nhà nhập khẩu yêu cầu đối với các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ như hợp chuẩn về chất lượng, hợp chuẩn trách nhiệm xã hội, hợp chuẩn về an ninh… trong đó hợp chuẩn về trách nhiệm xã hội tăng rất nhanh như hợp chuẩn về việc sử dụng nguồn nguyên liệu, hợp chuẩn truy xuất nguồn gốc, hợp chuẩn liên quan đến việc không sử dụng lao động trẻ em, hợp chuẩn về an toàn trong sản xuất, hợp chuẩn về việc không phân biệt đối xử với người lao động… Tuy nhiên, số doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các tiêu chuẩn hợp khẩu còn rất ít, chỉ chưa đến 20% tổng số doanh nghiệp thủ công của Việt Nam có thể đáp ứng được một số tiêu chuẩn hợp chuẩn, điều này làm giảm cơ hội để doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường xuất khẩu.

5. Thiết kế phát triển sản phẩm

Các làng nghề ít có khả năng tạo ra các sản phẩm mới do không am hiểu về xu hướng thị trường. Cũng chỉ có một số ít các doanh nghiệp có khả năng thiết kế các sản phẩm mới, còn lại đa số các doanh nghiệp sản xuất theo mẫu hàng của khách. Do ít có sản phẩm thiết kế mới nên việc duy trì và phát triển khách hàng/ thị trường là một vấn đề rất khó khăn. Một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Philippine có các Trung tâm thiết kế chuyên nghiệp để hỗ trợ doanh nghiệp thủ công của họ nhưng hiện tại các trung tâm như vậy chưa có tại Việt Nam.

Hệ thống các trường thiết kế Việt Nam mặc dù rất nhiều nhưng việc đào tạo còn mang tính lý thuyết và ít có sự liên kết với các làng nghề và ngay cả khi có sự liên kết thì chất lượng thiết kế cũng còn rất hạn chế và doanh nghiệp ít sử dụng được. Các doanh nghiệp dệt và thêu thành công hiện tại là các doanh nghiệp đầu tư sâu vào thiết kế phát triển sản phẩm mới bằng cách thuê các chuyên gia thiết kế nước ngoài, duy trì nhóm sản xuất hàng mẫu tại doanh nghiệp

6. Liên kết ngành

Việc liên kết ngành còn yếu. Hiện cả nước có các hội/hiệp hội liên quan đến làng nghề/ mặt hàng dệt và thêu như Hiệp hội thêu Hà Nội, Hiệp hội lụa Vạn Phúc, Hiệp hội lụa Nha Xá… ….tuy nhiên chất lượng cung cấp dịch vụ của đa số các Hiệp hội còn yếu và thiếu sự gắn kết giữa Hiệp hội với các doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực, tài chính của các Hội cũng như các định hướng hoạt động chưa đáp ứng được yêu cầu của các hội viên. Bản thân nhiều hội viên doanh nghiệp dệt và thêu cũng thiếu ý thức về việc liên kết hợp tác để cùng phát triển. Vai trò và tiếng nói của các hiệp hội đối với các cơ quan quản lý nhà nước còn rất mờ nhạt .

7. Xúc tiến thương mại

Nhìn chung các hoạt động xúc tiến thương mại đối với ngành thủ công mỹ nghệ nói chung và nhóm ngành dệt và thêu nói riêng còn rất ít có sự đồng hành của nhà nước mà chủ yếu do sự nỗ lực của các doanh nghiệp.

Các hội chợ tổ chức trong nước, bên cạnh việc thiếu địa điểm tổ chức chuyên nghiệp trầm trọng từ trước đến nay, nhìn chung có rất ít hiệu quả. Các hội chợ (trừ Hội chợ Lifestyle Vietnam do Vietcraft tổ chức) còn chưa định hướng được phân khúc thị trường/ khách hàng, không có các hoạt động marketing chuyên nghiệp… nên không thu hút được doanh nghiệp và khách hàng. Việc tham gia các hội chợ quốc tế đem lại cơ hội rất tốt để tìm kiếm khách hàng mới tuy nhiên do chi phí rất cao nên cũng còn ít doanh nghiệp mây tre lá có thể tham gia. Ở góc độ khu vực, các quốc gia như Philippine, Thái Lan, Indonesia đang hỗ trợ rất tích cực để xây dựng và quảng bá hình ảnh các sản phẩm thủ công của họ đặc biệt là ở các Hội chợ quốc tế lớn như Ambiente và Heimtextil (Frankfurt, Đức), Maison et Objet (Paris, Pháp), NY Now (New York, Mỹ), Tokyo Giftshow (Nhật)…

8. Môi trường làng nghề

Môi trường làng nghề dệt là một vấn đề thực sự nghiêm trọng. Đa số các làng nghề đều bị ô nhiễm nguồn nước do nước thải từ quá trình tẩy, nhuộm vải. Các làng nghề ít có khả năng tự đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải do kinh phí cao trong khi đó vấn đề này lại ít được các địa phương/ các tỉnh thực hiện do nhiều lý do khác nhau dẫn đến tình trạng người dân phải tự xử lý nội bộ theo hướng tiêu cực. Có một số ít các làng nghề dệt đã đầu tư xử lý nước thải ở làng nghề dệt, ví dụ năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh Thái Bình đã đầu tư cho làng nghề dệt Thái Phương một nhà máy xử lý nước thải với trị giá gần 80 tỷ đồng

9. Cơ chế chính sách

Còn nhiều chính sách bất cập với nhóm ngành nghề dệt và thêu – thứ nhất là việc tính thuế đối với sản xuất hàng thêu thủ công như những nhóm mặt hàng dệt may công nghiệp mặc dù đặc thù của sản xuất hàng thêu ở quy mô hộ gia đình. Bên cạnh đó các doanh nghiệp dệt và thêu thủ công cũng rất khó tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi phục vụ sản xuất, giá thuê đất liên tục tăng và không thể dự đoán được. Chính sách bảo hiểm cho sản xuất dâu tằm tơ nhằm đảm bảo vùng diện tích quy hoạch cũng chưa được triển khai mặc dù Trung Quốc đã triển khai việc này từ gần 20 năm nay.