Việt Nam hiện có hơn 1,5 triệu ha tre nứa dưới các loại rừng khác nhau. Trong đó diện tích có thể khai thác bền vững được là 354.000 ha với trữ lượng khai thác khoảng 4,3 tỷ cây và sản lượng có thể khai thác hằng năm là 432 triệu cây. Tổng lượng tre nứa khai thác dành cho sản xuất thủ công mỹ nghệ không nhiều, còn lại đi vào các ngành xây dựng và sản xuất bột giấy
Việt Nam có 92 loài tre trúc của 16 chi, phân bố ở hầu hết các tỉnh trong cả nước. Dưới đây là một số loài được dùng nhiều vào việc sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ trên phạm vi cả nước:
Trúc quân tử: phân bố tập trung ở tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, khu rừng Yên Tử - tỉnh Quảng Ninh, Loại trúc này sử dụng làm nan dệt mành, nan dát gường, nan ghế sa lon.
Trúc đá, trúc cần câu: phân bố tập trung ở các tỉnh thuộc rãy núi Hoàng Liên Sơn - Sa Pa - Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Quảng Nam và một số tỉnh miền Đông Nam Bộ như Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai. Loại trúc này thường được sử dụng làm bình phong, hàng rào, cần câu, cắt ống nhỏ làm mành ống treo, ...
Trúc cỏ: mọc rải rác ở huyện Sông Mã và một số huyện khác của tỉnh Sơn La, Hoà Bình. Loại trúc này có trữ lượng không nhiều, sử dụng để cắt thành ống dùng làm mành treo rất đẹp hoặc dệt mành treo cả cây.
Vầu (có nơi gọi dùng, lùng): phân bố tập trung ở tỉnh Thái Nguyên, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Bắc Giang, Bắc Cạn, Nghệ An, các huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế. Vầu có đặc tính mềm dẻo, các làng nghề thường dùng vào việc chẻ nan đan lát, rổ, rá, dần sàng, lồng đèn, làm vanh nón, làm tăm răng, tăm hương, chẻ làm nan dệt mành lụa
Tre gai: phân bố ở hầu khắp các tỉnh Trung Du miền núi phía Bắc, Miền Trung, Tây nguyên, miền Đông Nam Bộ. Loài tre này có đặc tính dẻo, trẻ nan đan được nhiều loại sản phẩm hàng thủ công như rổ, rá, dần, sàng, nong, nia, thúng, các dụng cụ đánh bắt tôm, cá như lò, đó, thuyền…
Giang, nứa: phân bố tập trung nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ. Đặc tính dẻo, dễ chế biến trong làm hàng thủ công như làm hàng giang xâu xiên, hàng nứa cuốn, đan lát, ...
Tầm vông: phân bố chủ yếu các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ, số lượng nhiều phải kể đến Tây Ninh, Bình Phước. Những năm gần đây do phát triển các cây trồng công nghiệp có hiệu quả hơn (cao su, hồ tiêu, ...) diện tích tầm vông đã bị thu hẹp đáng kể. thân cây có độ rỗng nhỏ, được sử dụng nhiều vào việc làm bàn, ghế, tủ, kệ, giá sách, thang, hàng rào, gần đây còn được dùng vào việc thay thế các balets lót sàn tàu biển để vận chuyển gạo xuất khẩu.
Trẩy, hóp: phân bố chủ yếu tại các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang rải rác một số huyện của các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Giang, Lào Cai, Hòa Bình. Luồng, diễn, bương, mai: phân bố tập trung ở các tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La, Phú Thọ, Tuyên Qung, Yên Bái. Trong các làng nghề thường dùng luồng, diễn, bương kết hợp các loại tre khác để làm bàn nghế, tràng kỷ, giường nằm.
Lồ ô: phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng Tây Nguyên. Lâm Đồng là tỉnh có trữ lượng lớn. Hiện nay lồ ô được các cơ sở sử dụng làm đũa, tăm xiên thịt, tăm răng, que kem, tăm hương.
Tuy có trữ lượng lớn, nhưng chất lượng kém nên tỷ lệ nguyên liệu có thể sử dụng được cho ngành nghề thủ công mỹ nghệ lại rất thấp. Do nguyên liệu tre nứa chủ yếu là mọc tự nhiên hoặc trồng nhưng công tác chọn tạo giống, thâm canh chưa được quan tâm nên thiếu độ đồng đều về kích thước, màu sắc, tuổi khi khác thác. Đây là những yếu tố hạn chế rất lớn về mặt nguyên liệu cho sản xuất của các làng nghề. Hệ số sử dụng nguyên liệu mây tre của Việt Nam nói chung còn rất thấp, giao động từ 50% - 65%, trong khi đó ở Trung Quốc hệ số sử dụng nguyên liệu luôn đạt trên 85%. Hướng áp dụng công nghệ mới để nâng cao hệ số sử dụng nguyên liệu bắt đầu được các cơ sở làng nghề quan tâm nhằm góp phần hạ giá thành của sản phẩm (ví dụ đầu tư vào công nghệ tre ghép khối Strandwoven để cố gắng nâng hiệu suất sử dụng nguyên liệu lên trên 70%).
Việc quy hoạch nguyên liệu họ tre theo nhu cầu sử dụng chưa được quan tâm, một số loài nguyên liệu họ tre như nứa, lùng, tầm vông, là ngà, trúc sào… trở nên khan hiếm, trong khi đó một số loài khác như tre gai…đang được trồng rải rác khắp các vùng ở đồng quê lại không được sử dụng. Nguyên liệu họ tre ít được quan tâm quy hoạch tại hầu hết các địa phương, vị trí của nguyên liệu họ tre còn kém xa so với một số loại cây trồng khác như cao su, keo, điều…, mặc dù trên góc độ kinh tế nguyên liệu họ tre có thể đua lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Nhiều doanh nghiệp đã tổ chức phát triển vùng nguyên liệu và/hoặc mong muốn phát triển vùng nguyên liệu, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều khó khăn liên quan đến việc tìm kiếm nguồn đất để ổn định sản xuất lâu dài hoặc khó khăn về việc tìm ra những mối quan hệ hợp tác phù hợp với các công ty lâm nghiệp hoặc/và các hộ gia đình là chủ sở hữu của đất lâm nghiệp. Việc phát triển nguyên liệu họ tre của các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn về kỹ thuật canh tác, nguồn giống (nhiều loại nguyên liệu chưa tạo được cây giống)…
Do nguyên liệu khan hiếm và giá nguyên liệu họ tre tăng cao, các doanh nghiệp đã bắt đầu khai thác vùng nguyên liệu tre thông qua nhập khẩu. Nguồn nguyên liệu nhập khẩu chính là nguyên liệu trúc từ Trung Quốc, luồng từ Lào, tầm vông từ Cam-pu-chia. Đây thực sự là một nguy cơ đối với các làng nghề tre mỹ nghệ của Việt Nam về lâu dài, bởi trong trường hợp này các làng nghề đã phụ thuộc vào nguồn tre nhập khẩu và thu nhập giữ lại trong nước trên thực tế cũng sẽ giảm vì có một lượng ngoại tệ sẽ được sử dụng để chuyển ra nước ngoài mua nguyên liệu. Bên cạnh đó, diện tích vùng nguyên liệu suy giảm cũng tạo ra nguy cơ mất việc làm và thu nhập cho nhiều đồng bào nghèo ở vùng nguyên liệu nơi cây nguyên liệu họ tre là một trong những nguồn thu chủ yếu.



